Đào Tiềm
Học thuậtThân thiện
Định nghĩa
- Danh từ riêng:
- Tên một nhà thơ nổi tiếng thời Đông Tấn (Trung Quốc): Đào Tiềm (365-427), còn được biết đến với tên tự là Uyên Minh hoặc Uyên Lượng, là một nhà thơ, nhà văn và ẩn sĩ có ảnh hưởng lớn trong văn học Trung Quốc.
- Biểu tượng của tinh thần ẩn dật, thanh cao, không màng danh lợi: Tên ông thường được nhắc đến như một hình mẫu của người trí thức từ bỏ chốn quan trường để về ở ẩn, sống hòa hợp với thiên nhiên và giữ khí tiết thanh cao.
Ví dụ sử dụng
- Danh từ riêng:
- Phong cách thơ của Đào Tiềm giản dị, trong sáng, gần gũi với đời sống nông thôn.
- Gương sống ẩn dật của Đào Tiềm được nhiều thế hệ văn nhân ngưỡng mộ.
Các cách sử dụng nâng cao
"Tinh thần Đào Tiềm": cụm từ dùng để chỉ lối sống thoát tục, không bon chen danh lợi, yêu thiên nhiên và tự do.
- Ông ấy từ chức về quê trồng rau, nuôi gà, sống một cuộc đời mang tinh thần Đào Tiềm.
"Hình ảnh Đào Tiềm": thường gắn liền với hình ảnh người ẩn sĩ bên khóm cúc, chén rượu và thơ ca.
- Trong thơ ông, hình ảnh Đào Tiềm hiện lên như một lão nông an nhiên tự tại.
Biến thể và từ liên quan
- Đào Uyên Minh: tên tự thường dùng để gọi Đào Tiềm.
- Ngũ Liễu tiên sinh: bút danh Đào Tiềm tự đặt cho mình trong tác phẩm "Ngũ Liễu tiên sinh truyện", ám chỉ người sống đạm bạc bên năm cây liễu.
- Ẩn sĩ: danh từ chung chỉ người có học thức nhưng lui về sống ẩn dật, tránh xa chính trường, giống như Đào Tiềm.
Từ đồng nghĩa / Cách gọi khác
- Đào Uyên Lượng: một tên tự khác của ông.
- Đào lệnh: cách gọi tôn kính (quan lệnh họ Đào), xuất phát từ chức huyện lệnh Bành Trạch ông từng đảm nhận.
Thành ngữ, điển tích liên quan
"Năm đấu gạo" (Ngũ đấu mễ): điển tích xuất phát từ câu nói của Đào Tiềm khi từ quan: "Ta há lại vì năm đấu gạo mà phải khom lưng cúi đầu trước bọn tiểu nhân nơi thôn dã?", biểu trưng cho khí tiết không vì miếng cơm manh áo mà khuất phục.
- Ông ấy có cái khí khái của bậc trượng phu, chẳng vì "năm đấu gạo" mà bẻ cong lập trường.
"Quy khứ lai từ": tên bài phú nổi tiếng của Đào Tiềm, thể hiện tâm trạng phấn chấn khi từ bỏ quan trường để trở về với cuộc sống tự do, thường được dùng để chỉ sự từ bỏ vinh hoa để tìm về sự thanh bình.
- Sau bao năm bon chen, ông viết một bản "Quy khứ lai từ" cho đời mình, trở về vườn cũ.
- Tên là Uyên Minh, tự Uyên Lượng, đời Tấn
- Tấn Thư: Đào Tiềm là người đất Sài Tang đời Tấn, tính tình cao thượng, không cần danh lợi, ham học, giỏi thơ văn. ông có soạn truyện "Ngũ Liễu tiên sinh" để tự ví mình. Nhà nghèo có cha mẹ già, ông phải ra làm chức Tế tửu - chức quan nhỏ trong huyện, nhưng không chịu gò bó nên từ quan về nhà. Về sau, ông lại ra làm huyện lệnh Bàng Trạch, được hơn 80 ngày, nhân cuối năm phái viên đốc hưu (chức quan giúp quan quận thú coi việc kiểm tra đôn đốc các huyện trong quận) đến huyện, nha lại khuyên ông ăn mặc chỉnh tề để đốc hưu. ông ngậm ngùi than rằng: "Ngã khởi năng vị ngũ đấu mễ chiết yêu quyển quyển sự hương lý tiểu nhân đa" (Ta sao lại có thể vì 5 đấu gạo mà phải chịu còng lưng, vòng tay thờ bọn tiểu nhân nơi thôn xóm ấy ru !). rồi ngay hôm ấy ông trả ấn bỏ quan mà về
- ông có làm bài: "Quy khứ lai từ" nổi tiếng để tỏ chí mình: "Quy khứ lai hề, điền viên tương vu, hồ bất quy ?" (đi về sao chẳng về đi, ruộng hoang vườn rậm còn chi không về ?)
- Sau khi từ quan về, ông hay ẩn nằm ngũ dưới cửa sổ đằng Bắc, tự coi mình là người đời Hy Hoàng. ông vui cảnh an bần lạc đạo, lấy tiếng đàn, câu thơ, chén rượu làm vui. Tính ông chuộng Cúc, cứ đến ngày trùng cửu (mùng 9/9), ông lại cùng bạn bè bày tiệc rượu bên khóm trúc để thưởng hoa
- ông có câu thơ: "Ngã ốc song nam hạ, kim sinh kỷ tùng cúc." (Dưới cửa sổ mé nam nhà ta, nay mấy khóm cúc đã mọc)
- Đỗ Phủ (Đường):
- Đào lệnh môn tiền cúc
- Dư hoa khả tặng quân. (Cúc trước cửa nhà quan lệnh họ Đào, còn thừa hoa để tặng bác)
- Quốc âm thi tập:
- Đầu tiếc đội món khăn Đỗ Phủ
- Tay còn lựa hái cúc Uyên Minh